RMO

{Rahul Mohindar Osc (RMO)}
Mov(Fml("Swingtrd 1"),81,E)

{SwingTrd 1}
100 *
(CLOSE - ((Mov(C,2,S) +
Mov(Mov(C,2,S),2,S) +
Mov(Mov(Mov(C,2,S),2,S),2,S) +
Mov(Mov(Mov(Mov(C,2,S),2,S),2,S),2,S) +
Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(C,2,S),2,S),2,S),2,S),2,S) +
Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(C,2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S) +
Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(C,2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S) +
Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(C,2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S) +
Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(C,2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S) +
Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(Mov(C,2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S),2,S)) / 10)) /
(HHV(C,10) - LLV(C,10))

{SwingTrd 2}
Mov(Fml("SwingTrd 1"),30,E)

{SwingTrd 3}
Mov(Fml("SwingTrd 2"),30,E)

Expert:

{RMO + SwingTrd + Market Trend}
Bullish Trend:
Mov(Fml("SwingTrd 1"),81,E)>0

BearishTrend:
Mov(Fml("SwingTrd 1"),81,E)<0

Highlights Sell:
Mov(Fml("SwingTrd 1"),81,E)<0

Highlights Buy:
(Mov(Fml("SwingTrd 1"),30,E)) > 0

Buy Arrow:
Cross( Fml( "swingTrd 2"),Fml( "swingTrd 3") )

Sell Arrow:
Cross( Fml( "swingTrd 3") , Fml( "swingTrd 2"))
Posted in Uncategorized | Leave a comment

Lệnh ATO, ATC, LO, MP là gì?

Lệnh ATO, ATC, LO, MP là gì?

Lệnh ATO (lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa) là lệnh đặt mua 

hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá mở cửa. Lệnh ATO được ưu tiên trước lệnh 

giới hạn trong khi so khớp lệnh.

Lệnh ATO được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ (hiện tại thời

gian khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa là 8h30-9h) xác định giá mở cửa. Lệnh này sẽ tự

động bị hủy bỏ sau thời điểm xác định giá mở cửa đối với lệnh không được thực hiện hoặc

phần lệnh còn lại chưa được thực hiện.

Nhà đầu tư lưu ý, khi đặt lệnh ATO trên các phiếu lệnh tại công ty chứng khoán, không cần ghi

giá cụ thể mà ghi ATO.

Ví dụ: Sổ lệnh của cổ phiếu ABC có giá tham chiếu 10.000 đồng

KL mua Giá mua Giá bán KL bán
1.500 10.000đ (3) ATO 2.000 (2)
9.900 đồng 1.000 (1)

(1),(2),(3): Thứ tự lệnh được nhập vào hệ thống

Với sổ lệnh trên, lệnh ATO dù vào sau lệnh (1) bán 1.000 cổ phiếu ABC giá 9.900 đồng,

nhưng vẫn được ưu tiên khớp với lệnh mua 1.500 đơn vị ở giá 10.000 đồng. Lượng dư bán

500 đơn vị của lệnh ATO sẽ tự động bị huỷ bỏ.

Giả sử lệnh ATO trên chỉ bán với khối lượng 500 đơn vị thì bên mua sau khi khớp vẫn còn thừa 1.000 đơn vị và lúc này lệnh (1) mới được khớp. Do lệnh (1) vào hệ thống trước nên

được ưu tiên giá tốt và 1.000 đơn vị sẽ được khớp với giá 10.000 đồng. Khả năng mua được

hoặc bán được của lệnh ATO rất cao, nhưng mức giá có thể không có lợi.


Lệnh ATC (lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa) là lệnh đặt mua 

hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá đóng cửa.

Lệnh ATC được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh.

Lệnh ATC được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá

đóng cửa (10h15-10h30). Lệnh ATC sẽ tự động bị hủy bỏ sau thời điểm xác định giá đóng

cửa đối với lệnh không được thực hiện hoặc phần lệnh còn lại chưa được thực hiện

Lệnh thị trường (viết tắt là MP) là lệnh mua tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường.

Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh MP vẫn chưa thực hiện hết thì lệnh MP sẽ được xem là lệnh

mua tại mức giá bán cao hơn hoặc lệnh bán tại mức giá mua thấp hơn tiếp theo hiện có trên

thị trường.

Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh MP vẫn còn, lệnh MP sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn

mua (bán) tại mức giá cao (thấp) hơn một đơn vị yết giá so với giá giao dịch cuối cùng trước

đó.

Trường hợp giá thực hiện cuối cùng là giá trần đối với lệnh MP mua hoặc giá sàn đối với lệnh

MP bán thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại giá trần hoặc lệnh giới

hạn bán tại giá sàn.

Các thành viên không được nhập lệnh MP vào hệ thống giao dịch khi chưa có lệnh giới hạn đối ứng đối với chứng khoán đó.

Các lệnh mua MP của nhà đầu tư nước ngoài nếu không được thực hiện hết sẽ tự động bị huỷ

bỏ.

Lệnh thị trường (MP) chỉ sử dụng trong phiên khớp lệnh liên tục (9:00 – 10:00).

Bạn có thể thấy quá trình sử dụng lệnh thị trường rõ hơn qua sơ đồ và ví dụ sau:

Lệnh không ghi giá (ghi MP – giá thị trường) Ví dụ:  Mua REE 1.000cp @MP

Trình tự khớp:

Lệnh đối ứng? Không có >> Lệnh bị từ chối

Có >> Xét Giá tốt nhất: Khớp hết? >> Chấm dứt
Không khớp hết >> Giá tốt kế tiếp. Khớp hết? >> Chấm dứt
Không khớp hết >> Giá tốt kế tiếp…
Khối lượng lệnh MP hết? >>  Chấm dứt

Khối lượng lệnh MP còn >> Chờ trên sổ lệnh tại mức giá thực hiện cuối cùng +1 đơn vị yết giá nếu là lệnh MP mua (-1 đơn vị yết giá nếu là lệnh MP bán).

Ví dụ về lệnh thị trường:

Sổ lệnh cổ phiếu BBB như sau:

KL Mua Giá mua Giá bán KL Bán
5000 MP 12.0 1000
12.1 2000

Kết quả khớp lệnh:

– 3000  = 1000(120) + 2000(121)

– 2000 chuyển thành lệnh LO mua tại mức giá 122.

Sổ lệnh cổ phiếu BBB sau khi so khớp như sau:

KL Mua Giá mua Giá bán KL Bán
2000 12.2

Kết quả khớp lệnh:

–  mua 3000 cp  trong đó 1000 (12.0) và 2000 (12.1)

– 2000 chuyển thành lệnh LO mua tại mức giá 12.2

Lệnh giới hạn (LO) là loại lệnh có ghi giá. Lệnh giới hạn có hiệu lực kể từ khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch và chờ trên sổ lệnh cho đến lúc kết thúc ngày giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ.

Ví dụ: cổ phiếu ABC có bảng giá như sau

Khối lượng mua Giá mua Giá bán Khối lượng bán
1000 31.0 31.2 100
4000 30.9 31.3 500

Đặt lệnh LO bán 200  cổ phiếu giá 31.3, lập tức ô khối lượng mức giá 31.3 tăng lên thành 700. Lệnh được khớp khi giá thị trường đạt 31.3 với khối lượng mua vượt quá hoặc bằng 700. (mời xem lại quy tắc khớp lệnh)

Đặt lệnh LO bán 200 cổ phiếu giá 31.0, Lệnh lập tức được khớp ngay. Ô khối lượng tại mức giá 31.0 giảm còn 800.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

UNDERSTANDING THE RMO OSCILLATOR

The Rahul Mohindar Oscillator can be used across any time frame and for any financial instrument.  It is designed to work with both Bar Charts and Japanese Candlestick Charts.  This indicator is a gauge as to market direction and can be a primary trend indicator in many trading systems.

The RMO is displayed as a histogram.  As a bullish “buy” sign, we will look for the point at which the histogram shows movement crossing the oscillator’s zero line going upwards.  If it should go down and cross the line going down, that would be our “sell” sign, or a “short-sell” sign.

The complete trading system is available through the Equis International MetaStock Charting Software.  An example of the complete, 5 step method is shown in the Chart below.

This is the way the Charted RMO Trading Model looks using Apple Computers(AAPL):

published by MetaStock(www.equis.com)

The RMO Oscillator, explained above, is the green graph shown at the top window of the Chart.  This indicator is the first gauge as to the market direction.  Once the primary trend is determined, the second window should be observed.

The second window of the Chart contains Swing Trade 2 in pink, and Swing Trade 3, which is purple.  These two indicators are designed to help us see the medium term and the long term trends.  The pink histogram (Swing Trade 2) represents the medium term trend and the purple histogram (Swing Trade 3) represents the long term trend.  When the histograms cross each other, it represents a change in the strength of the trend.

Moving forward past the third window for the while, we see the blue and red Bar Chart below it.  The red and blue alert arrows and the color of the bars on the Bar Chart represent the crossing points of the Swing Trade 2 and Swing Trade 3 histograms.  These signify a change in the strength of the trend.  Blue bars are taken as bullish signals, while Red bars are bearish.

To enter a long buy or exit a short sell position, three conditions must be met:

1. The RMO is currently above zero.

2. The most recent alert arrow must be blue.

3. The price bars on the Bar Chart must have become blue at or before the examined time frame.

To enter a short-sell or exit a position, the reverse must be true on all three conditions.

Now to the third window that we skipped before.  This is the exit swing indicator and gives added protection when applying stops by having us put in a trailing stop at certain situations.  The rules for applying this is that first you must be invested and in a profitable position.  If you are in a long position, for example, and this indicator falls below the red horizontal line demarcating the chart, consider putting a trailing stop below the trade.  And if this indicator, called the exit swing indicator crosses above the blue line demarcating the chart, consider putting a trailing stop above your short sell position.

This is just one example of the many different and complex trading methods in the Science of  Technical Analysis.  It has a whole realm on to itself that can never be beat by any other method of Market Analysis for success rate, popularity and enthusiasm which investors using it see.  This world must be examined by all who wish to invest and those who put it off or blame it for certain disasters speak from a stance of utter ignorance of the Science, for if they examined even the simplest line studies, they would know the truth.

Print Friendly

Share and Enjoy

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Thị trường con gấu && Thị trường con bò tót

http://my.opera.com/Doryfish/blog/2009/09/11/thi-truong-con-gau-thi

Đặc trưng

1. Cung và cầu chứng khoán: trong một thị trường con bò tót, cầu chứng khoán cao hơn cung. Nói một cách khác, nhiều NĐT muốn mua, trong khi rất ít người muốn bán. Kết quả là giá CP tăng. Trong khi đó, ở thị trường con gấu, sẽ có nhiều người muốn bán hơn là muốn mua. Cầu thấp đáng kể so với cung và tất yếu dẫn đến giá CP giảm.

2. Tâm lý NĐT: Trong thị trường con bò tót, hầu hết NĐT cảm thấy hứng thú với thị trường, họ sẵn sàng tham gia vào thị trường với hy vọng sẽ thu được lợi nhuận. Ngược lại, trong một thị trường con gấu, tâm lý NĐT là tiêu cực, khiến họ tháo chạy khỏi thị trường và điều này đôi khi lại đẩy thị trường trượt dốc mạnh hơn.

3. Sự thay đổi trong hoạt động kinh tế: Một thị trường con gấu thường liên quan đến một nền kinh tế yếu kém, khi hầu hết DN không có lợi nhuận cao. Tất nhiên, sự sụt giảm lợi nhuận này sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến cách thức thị trường định giá các CP. Còn trong một thị trường con bò tót, điều ngược lại sẽ xảy ra

NĐT nên làm gì ?

Trong thị trường con bò tót, điều lý tưởng NĐT nên làm là tận dụng việc giá tăng lên để mua vào ngay từ đầu thời kỳ và bán ra khi giá các CP họ nắm giữ đang lên đến đỉnh (việc xác định chính xác khi nào là đáy và khi nào là đỉnh là điều không thể). Vì nhìn chung, NĐT có xu hướng tin tưởng rằng thị trường đang tăng, họ sẽ có nhiều khả năng thu được lợi nhuận hơn và khi giá đang tăng, bất kỳ một khoản thua lỗ nào cũng trở thành nhỏ bé và mang tính tạm thời.

Trong một thị trường con gấu, nguy cơ thua lỗ cao hơn bởi giá cả không ngừng giảm đi và thật khó để xác định đâu là điểm dừng cuối cùng. Thậm chí,kể cả khi NĐT kiên nhẫn chờ đến lúc giá tăng, nhiều khả năng vẫn phải chịu một khoản thua lỗ nhất định trước khi thị trường đổi chiều. Vì thế, khả năng thu lời trong thời kỳ này chủ yếu nằm ở các hình thức đầu tư an toàn hơn như các loại trái phiếu hoặc các tài sản khác. Việc phân chia tỷ lệ nguồn vốn của bạn vào CP, trái phiếu, tiền mặt và các loại tài sản khác chính là gốc rễ của việc đa dạng hóa đầu tư. Cách thức phân chia như thế nào phụ thuộc vào khả năng chấp nhận rủi ro, mục tiêu và thời gian đầu tư… NĐT cũng có thể chuyển hướng sang các CP “phòng thủ” – những CP chịu tác động rất nhỏ từ sự thay đổi xu hướng trên thị trường và nhờ đó khá ổn định, bất kể nền kinh tế đang thoái trào hay bùng nổ. Tuy nhiên, thị trường con gấu lại có thể đem đến cho NĐT những cơ hội tuyệt vời. Đối với NĐT giá trị, thị trường con gấu là cơ hội mua vào hiếm có, bởi CP của các công ty tốt bị đánh tụt xuống ngang hàng với các công ty khác và rơi xuống mức giá rất hấp dẫn.

Lưu ý:

Yếu tố cốt lõi quyết định một thị trường là con gấu hay con bò tót là xu hướng trong dài hạn, chứ không phải những phản ứng tức thời của thị trường trước một sự kiện cụ thể. Những biến động nhỏ chỉ phản ánh các xu hướng ngắn hạn hoặc các phiên điều chỉnh và nhìn chung, về dài hạn thị trường luôn có xu hướng vận động theo chiều hướng tích cực.

Các thuật ngữ này bắt nguồn từ đâu ?

Thật ra không có thông tin chính xác về nguồn gốc của các thuật ngữ này, nhưng dưới đây là hai giả thuyết phổ biến nhất:

1. Các thị trường con gấu và con bò được đặt tên theo cách mà các con vật này tấn công các nạn nhân của chúng. Cách tấn công đặc trưng của một con bò tót là nó giương sừng lên cao, trong khi một con gấu, sẽ đánh mạnh bộ vuốt xuống nạn nhân của nó. Hơn thế nữa, trước kia gấu và bò tót thường được đưa vào các đấu trường và cho đến bây giờ, chúng vẫn được biết đến với danh hiệu là những đối thủ rất hung dữ.

2. Về mặt lịch sử, những người môi giới trung gian trong việc mua bán da gấu sẽ bán những bộ da mà họ chưa từng nhận được, và theo ngôn ngữ bây giờ, họ chính là các short-seller (những người kinh doanh thu lời nhờ vào việc giá chứng khoán giảm). Sau khi đã thỏa thuận, cam kết xong xuôi với các khách hàng về các bộ da gấu đã được trả giá trước, những nhà môi giới này sẽ hi vọng giá mua vào da gấu từ các thợ săn trong tương lai gần sẽ giảm xuống thấp hơn giá hiện tại. Nếu sự giảm giá đó thật sự xảy ra, họ sẽ có thêm được một khoản lợi nhuận cá nhân từ khoảng chênh lệch giữa hai mức giá. Những người môi giới trung gian này được biết đến với cái tên “bear” (con gấu), rút gọn của “bearskin jobber” (người đầu cơ da gấu). Và kể từ đó thuật ngữ này được dùng rộng rãi để chỉ một ai đó mong muốn hay kì vọng thị trường sẽ đi xuống.

Làm thế nào để đo lường sự thay đổi của thị trường ?

Yếu tố cốt lõi quyết định một thị trường là con gấu hay con bò tót là xu hướng trong dài hạn, chứ không phải những phản ứng tức thời của thị trường trước một sự kiện cụ thể. Những biến động nhỏ chỉ phản ánh các xu hướng ngắn hạn hoặc các phiên điều chỉnh. Độ dài của khoảng thời gian bạn quan sát thị trường sẽ quyết định liệu bạn có đang được nhìn thấy một thị truờng con gấu hay một thị trường con bò hay không.

Ví dụ như, hai tuần qua chứng kiến thị trường có xu hướng đi lên “con bò” trong khi suốt hai năm qua, người ta chỉ thấy thị trường đều đặn đi xuống “con gấu”. Do đó, hầu hết mọi người đều đồng ý rằng một sự đảo chiều của thị trường cần phải được đo lường một cách chắc chắn thông qua mức độ thay đổi: Nếu các chỉ số thay đổi ít nhất từ 15 đến 20% thì các nhà đầu tư có thể chắc chắn rằng thị trường vừa chuyển sang một hướng đi mới. Nếu xu hướng mới này cứ tiếp diễn, điều đó là vì giới đầu tư đã lãnh hội được sự thay đổi trong cả thị trường chứng khoán cũng như nền kinh tế và vì thế đưa ra quyết định các tương ứng.
Không phải tất cả các hướng vận động kéo dài trên thị trường đều trở thành một con bò hay một con gấu. Đôi khi thị trường sẽ phải trải qua một thời kì đình trệ nhất định khi nó đang cố gắng tìm ra hướng đi. Trong trường hợp này, một chuỗi những vận động lên lên rồi xuống xuống…sẽ bù đắp cho mọi thua lỗ cũng như san phẳng mọi lợi nhuận có được trong xu hướng “phẳng” đó.

Điều phải làm ?

Trong một thị trường con bò, điều lí tưởng mà một nhà đầu tư nên làm là tận dụng việc giá tăng lên để mua vào ngay từ đầu thời kì và bán ra khi giá các cổ phiếu họ đang nắm giữ lên đến đỉnh (Tất nhiên, việc xác định chính xác khi nào là đáy và khi nào là đỉnh là điều không thể). Vì nhìn chung, các nhà đầu tư có xu hướng tin tưởng rằng thị trường đang tăng, họ sẽ có nhiều khả năng thu được lợi nhuận hơn trong thị trường con bò. Khi giá đang tăng, bất kì một khoản thua lỗ nào cũng trở thành nhỏ bé và mang tính tạm thời. Trong thị trường con bò, một nhà đầu tư có thể tự tin và chủ động đầu tư vào nhiều cổ phiếu hơn với khả năng sinh lời tăng cao.

Tuy nhiên, trong một thị trường con gấu, nguy cơ thua lỗ là cao hơn bởi giá cả không ngừng giảm đi và thông thường điểm dừng cuối cùng của sự trượt dốc đó không bao giờ nằm trong tầm mắt. Thậm chí kể cả khi bạn quyết định đầu tư và kiên nhẫn chờ đến lúc giá tăng, nhiều khả năng bạn vẫn phải chịu một khoản thua lỗ nhất định trước khi gió đổi chiều. Vì thế, khả năng thu lời trong thời kì này chủ yếu nằm ở các hình thức đầu tư an toàn hơn như các loại trái phiếu. Một nhà đầu tư cũng có chuyển hướng sang các cổ phiếu “phòng thủ” – những cổ phiếu chịu tác động rất nhỏ từ sự thay đổi xu hướng trên thị trường và nhờ đó khá ổn định bất kể nền kinh tế đang thoái trào hay bùng nổ. Đó là cổ phiếu của các ngành như dịch vụ công cộng – do Nhà nước sở hữu và điều hành, hay ngành cung cấp các sản phẩm thiết yếu – những thứ mọi người luôn có nhu cầu cho dù điều kiện kinh tế có thay đổi thế nào.

Kết luận

Không bao giờ và không thể nào dự đoán được các xu hướng của thị trường, vì thế nên các nhà đầu tư chỉ nên xuất vốn khi biết được chất lượng của các khoản đầu tư đó. Tuy nhiên, cùng lúc đó, bạn vẫn nên có hiểu biểt nhất định về các xu hướng dài hạn của thị trường. Bởi dù thị trường là con gấu hay con bò thì điều đó đều có ảnh hưởng rất lớn đối với các khoản đầu tư của bạn, hãy dành một khoảng thời gian hợp lý để tự xác định thị trường đang làm gì khi bạn chuẩn bị đưa ra một quyết định đầu tư. Còn một điểm đáng nhớ, nhìn chung về mặt dài hạn thị trường luôn có xu hướng vận động theo chiều hướng tích cực

Bulltrap và Beartrap

Bulltrap là hiện tượng ‘Bẫy tăng giá’ : là một tín hiệu sai từ thị trường khi đang trên đà sụt giảm chứng khoán hay chỉ số chứng khoán đó nhưng bất ngờ có dấu hiệu của một phiên tăng hay một đợt tăng nhỏ khiến NĐT cho rằng tình thế đó sẽ đảo ngược và tăng trở lại. Trên thực tế thì đà sụt giảm chứng khoán (chỉ số ck) vẫn tiếp tục.

Bulltrap thường là nguyên nhân khiến nhiều NĐT lầm tưởng thị trường có dấu hiệu phục hồi và bắt đầu mua vào. Tuy nhiên, ck hay chỉ số ck vẫn tiếp tục sụt giảm sau những tín hiệu sai lệch khiến họ mắc kẹt vào cái bẫy tăng giá đó.

Beartrap là hiện tượng ‘Bẫy giảm giá’ : là một tín hiệu sai cho thấy có một phiên giảm hay một đợt giảm nhỏ khi chứng khoán hay chỉ số ck đang trên đà tăng. Dấu hiệu này thường xuất hiện khi thị trường con gấu đảo ngược. Dấu hiệu beartrap khiến những NĐT bán khống tin rằng thị trường sẽ sụt giảm. Tuy nhiên, thị trường vẫn tiếp tục tăng khiến những NĐT đã bán khống đã mắc vào bẫy Beartrap và kết thúc lệnh bằng việc mua lại cp với giá cao hơn.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Đồ thị hình nến Nhật Bản – Japanese Candlestick Charting Techniques – Steve Nison (11)

THE SHOOTING STAR VÀ THE INVERTED HAMMER

Mẫu hình shooting star gửi một cảnh báo một đỉnh sắp xảy ra. Nó trông như  tên của nó, một sao băng. Nó thông th ường không phải là một tín hiệu đảo chiều chính như mẫu hình the evening star.

Như thể hiện trong hình 5.23, shooting star có một thân nhỏ nằm ở đáy trong phạm vi của phiên với một bóng trên dài. Giống như đối với tất cả các ngôi sao, màu của thân nến không phải là quan trọng. Mẫu hình the shooting star bằng hình ảnh nói với chúng ta rằng thị tr­ường mở phiên gần mức giá thấp của nó, rồi tăng giá và cuối cùng giảm giá kết thúc gần giá mở.

Một mẫu hình shooting star lý t ưởng có một thân nến có khoảng trống với thân nến trước. Tuy nhiên, như sẽ đư ợc thấy trong các ví dụ biểu đồ, khoảng trống này không phải luôn luôn cần thiết. Một thân nến theo khuôn shooting star sau một thời kỳ suy thoái có thể là một tín hiệu tăng giá. Mẫu hình đó được gọi là inverted hammer. Mẫu hình the inverted hammer đư ợc trình bày về sau trong chư ơng này.


Trong hình 5.24, có thể nhìn thấy vào ngày 2 tháng tư, một shooting star giảm giá đang báo hiệu sự rắc rối.


Hình 5.25 minh họa tốt cho the shooting star và những sự biến đổi của nó. Những sự biến đổi của shooting star bao gồm:

1. Shooting star 1 là một biến thể của shooting star. Nó không phải là ngôi sao lý tư ởng bởi vì không có khoảng trống giữa những thân nến. Tuy nhiên nó cũng chứng minh sự thất bại của những người đầu cơ giá lên để duy trì sự điều khiển thị trường.

2. Shooting star 2 không quan trọng lắm. Nó có một phần tiêu chuẩn của một shooting star (một ngôi sao với một thân nhỏ và bóng trên dài). Tuy thế, nó thiếu một quy tắc quan trọng. Nó không xuất hiện sau một xu hướng tăng mà cũng không ở đỉnh của một dải hẹp. Như vậy, nó cần phải đ ược nhìn như  một ngày thân nhỏ với ý nghĩa nhỏ bé. Một thân nhỏ (a spinning top) phản ánh sự do dự. Trong kinh doanh, sự do dự cần phải được chờ đợi.

3. Shooting star 3 có hình dạng của shooting star như ng nó không phải là một ngôi sao, vì nó không tạo ra khoảng trống từ thân nến trư ớc. Tuy nhiên, ngày này cần phải đư ợc nhìn trong bối cảnh hoạt động giá trư ớc đó. Đỉnh của bóng trên của shooting star 3 là một cuộc tấn công mức giá cao đầu tháng tám tại 6.18$. Những người đầu cơ giá lên tự làm suy yếu mình tại mức đó. Soybeans rồi đóng gần thấp của ngày.


4. Shooting star 4 rất giống shooting star 3. Nó cũng không phải là một shooting star lý tư­ởng khi thân nó không tạo ra khoảng trống từ thân trư ớc. Đó là sự cố gắng khác mà dao động tới gần 6.18$. Nó chứng minh rằng những người đầu cơ giá lên không thể giành được quyền điều khiển.

5. Shooting star 5 là sự thất bại khác ở ngưỡng kháng cự. Bạn phải ngưỡng mộ sự ngoan c­ường của những người đầu cơ giá lên trong việc cố gắng đẩy thị trư ờng lên cao hơn. Với mỗi sự thất bại ở ngưỡng kháng cự 6.18$, chúng ta tự hỏi khi nào những người đầu cơ giá lên sẽ không đẩy lên nữa. Chúng ta có câu trả lời với shooting star 6.

6. Shooting star 6 là cú đẩy cuối cùng bị thất bại. Những người đầu cơ giá lên rồi cũng chịu thua. The hammer là kết thúc của đợt bán tháo (sell off).

Hình 5.26 là ví dụ khác mà mẫu hình shooting star không tạo ra khoảng trống với thân nến trước. Tuy nhiên, nó vẫn là một tín hiệu đảo chiều quan trọng. Một lần nữa chúng ta hãy xem lại shooting star trong bối cảnh thị trường. Nó là sự thất bại khác tại những mức giá cao của quý ba năm 1989. Mẫu hình the shooting star đánh dấu sự kết thúc của quá trình tăng giá bắt đầu với mẫu hình the hammer.

Hình 5.27 thể hiện mẫu hình shooting star kinh điển, xuất hiện vào giờ đầu tiên ngày 29/5. Sự giảm giá tiếp theo dừng lại với mẫu hình engulfing tăng giá vào ngày 4/6.


Hình 5.28 minh họa hai mẫu hình shooting star báo trước rất ý nghĩa xu hướng giảm giá sau sự xuất hiện của chúng.

 

Hình 5.29 chỉ ra rằng mẫu hình shooting star cũng là một sự thất bại ở mức giá cao tháng m ười năm 1989.

Hình 5.30 cho thấy một cặp của mẫu hình shooting star. Mỗi cái đánh dấu sự kết thúc của xu hướng trước đó.

THE INVERTED HAMMER

Dù không phải là một mẫu hình có ngôi sao, chúng ta vẫn đề cập đến mẫu hình the inverted hammer trong mục này vì sự giống nhau của nó với mẫu hình the shooting star. Hình 5.31 minh họa một mẫu hình the inverted hammer trông như một mẫu hình shooting star với bóng trên dài và thân nhỏ nằm ở đáy trong phạm vi của phiên giao dịch. Như ng trong khi the shooting star là một mẫu hình đảo chiều ở đỉnh, thì the inverted hammer là một mẫu hình đảo chiều ở đáy. Cũng giống như the hammer, the inverted hammer là một mẫu hình tăng giá sau một xu thế giảm sút.


Quay lại biểu đồ ngô trong hình 5.27. Xem thân nến đầu tiên của mẫu hình engulfing tăng giá ngày 4 tháng 6. Nó có sự xuất hiện tương tự như mẫu hình the shooting star (màu của thân nến không phải là vấn đề). Trong ví dụ này, nó xuất hiện trong thời gian một xu thế giảm sút và như  vậy nó trở thành một mẫu hình the inverted hammer tiềm năng tăng giá.
Thật quan trọng để đợi sự xác nhận tăng giá ở phiên sau phiên inverted hammer. Sự xác nhận có thể là mở phiên tiếp theo ở trên thân của the inverted hammer. Khoảng trống càng lớn thì sự xác nhận càng cao. Một thân nến trắng với giá cả cao hơn có thể cũng là dạng khác của sự xác nhận.

Lý do để tín hiệu tăng giá của the inverted hammer quan trọng bởi vì hoạt động giá mà mẫu hình the inverted hammer xuất hiện là giảm giá.

Trong ví dụ hình 5.27, the inverted hammer được đi theo bởi một thân nến tăng giá trong phiên kế tiếp. Thân nến đó đáp ứng yêu cầu xác nhận hoạt động của giá.

Trong hình 5.32, mẫu hình shooting star 1 làm thị trư ờng dịu đi, về bản chất là chuyển sang dao động yếu từ một xu hướng tăng mạnh mẽ trư ớc đó. Thân nến đen sau shooting star 3 xác nhận một đỉnh khi nó hoàn thành một mẫu hình engulfing giảm giá. Sự giảm giá bắt đầu với shooting star 3 chấm dứt với mẫu hình piercing ngày 27, 28 tháng ba. Mẫu hình này tạo ra nền tảng cho một quá trình tăng giá mà kết thúc ở shooting star 4. Quan sát vị trí xu hướng giảm giá sau shooting star 4 dừng lại – một inverted hammer vào 21 tháng tư, mà đư ợc chứng minh bởi thân nến trắng cao hơn của ngày hôm sau. Nếu thân nến trắng này dài hơn, thì chúng ta có thể nói có một mẫu hình morning star (thân nến đen trước inverted hammer, inverted hammer và thân nến trắng sau nó tạo ra mẫu hình morning star này nếu nến trắng thứ ba dài hơn). Sự vận động bắt đầu với inverted hammer đẩy giá lên, cho đến khi xuất hiện shooting star 5.

Hình 5.33 minh họa những ví dụ khác của inverted hammer. Lưu ý inverted hammer 1 và 2 đư ợc xác nhận bởi giá cả mạnh mẽ hơn ngày tiếp theo. Điều này rất quan trọng. Inverted hammer 2 trở thành bộ phận của mẫu hình the morning star.

 


Posted in Uncategorized | Leave a comment

Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế

Trung bình động tại một thời điểm là giá trị trung bình của giá trong một giai đoạn tính đến thời điểm đó. Trung bình động là kim chỉ nam xác định xu thế đi lên hay đi xuống của giá.

Trong phân tích khoa học kỹ thuật và quản lý, trung bình động đã được ứng dụng rất rộng rãi. Vì vậy tất yếu trong phân tích thị trường chứng khoán với tư cách là một khoa học, trung bình động đã được ứng dụng ơhổ biến và rộng khắp.

(Xem Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan. để có khái niệm tổng quát về phân tích kỹ thuật)

Về phân loại các phương pháp phân tích kỹ thuật, trung bình động thuộc nhóm phương pháp phân tích xu thế, vì vậy trung bình động có các thuộc tính và tính chất của các phuơng pháp phân tích xu thế – Xem Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

1. Các phương pháp trung bình động

Trung bình bình động được tính bằng nhiều phương pháp khác nhau. Khuôn khổ bài viết này chỉ giới thiệu hai phương pháp tính trung bình động được sử dụng phổ biến.

1.1. Trung bình đơn SMA

Trung bình đơn tại một phiên là lấy giá trị trung bình của phiên đó và các phiên trước.

Gọi

  • SMAt là giá trị trung bình động tại phiên t.
  • Pt là giá của CP tại phiên t.
  • n là số phiên tính trung bình động

Giá trị của trung bình đơn tại phiên t là

SMAt = (Pt + Pt – 1 + Pt – 2 + … + Pt – n + 1) / n

1.2. Trung bình hàm mũ EMA

Gọi

  • EMAt là giá trị trung bình động hàm mũ tại phiên t
  • Gọi Pt là giá CP tại phiên t
  • n là số phiên tính trung bình động

Giá trị của trung bình hàm mũ tại phiên t là

EMAt = ((Pt – EMAt – 1) * M) + EMAt – 1

(Với hệ số M thường được lấy với giá trị = 2 / (1 + n))
Đường trung bình động giá CP của Công ty Cổ phần Hàng hải Hà Nội – MHC
nguồn ảnh đồ thị – http://www.vietstock.com.vn

2. Trung bình động và độ trễ

Cũng như phần lớn các mô hình kỹ thuật khác, trung bình động dựa vào thông tin trong quá khứ mà không tính toán đến các giá trị tương lai, vì vậy trung bình động chỉ thị xu thế tăng hoặc giảm trễ hơn sau khi sự kiện đã xảy ra. Như vậy trung bình động không dự đoán trước tương lai mà chỉ là công cụ xác định xu thế hiện thời của thị trường.
Để điều chỉnh độ trễ của trung bình động, cần phải điều chỉnh số phiên tính trung bình độ hoặc lựa chọn phương pháp tính trung bình động có độ trễ ít hơn. Nếu số phiên lấy trung bình động càng lớn thì độ trễ càng cao và ngược lại số phiên lấy trung bình động càng nhỏ thì đỗ trễ càng thấp. Trong hai loại trung bình động nêu ở trên thì với cùng số phiên lấy trung bình động thì EMA cho độ trễ thấp hơn so với SMA.
Việc điều chỉnh độ trễ sẽ ảnh hưởng đến tính chính xác và tính nhạy đối với các biến động của thị trường. Nếu độ trễ nhỏ, trung bình động rất nhạy với các biến động thị trường, phản ánh kịp thời các biến động này nhưng khả năng trung bình động phản ánh sai càng lớn. Ngược lại đỗ trễ càng lớn, trung bình động càng ít nhạy và phản ánh muộn các biến động của thị trường nhưng sự phản ánh của trung bình động chính xác hơn so với độ trễ nhỏ. Nếu sử dụng đỗ trễ nhỏ, nhà đầu tư có thể nhanh chóng nhận biết biến động của thị trường để kịp thời nắm bắt cơ hội nhưng có thể phải trả giá cho các dấu hiện sai lầm do khả năng sai là rất lớn. Nếu sử dụng độ trễ lớn, nhà đầu tư có thể hạn chế khả năng sai xót nhưng lại chậm nắm bắt cơ hội đầu tư.

3. Chọn số các phiên tính trung bình động

Số phiên tính trung bình động càng lớn thì các phân tích rút ra từ trung bình động càng thể hiện trong dài hạn, vì vậy lựa chọn số phiên tính trung bình động phụ thuộc vào chiến lược của các nhà đầu tư. Các chuyên gia khuyên rằng số phiên tính trung bình động nên bằng ½ số phiên trong một chu kỳ “lướt sóng” mà nhà đầu tư dự định:
Số phiên tính trung bình động = Số phiên trong 1 chu kỳ lướt sóng / 2 + 1
Bảng sau số phiên tính trung bình động tùy thuộc theo mục tiêu của nhà đầu tư
Mục tiêu
Rất ngắn hạn    5 – 10 ngày
Ngắn hạn    11 – 25 ngày
Trung bình    25 – 100 ngày
Dài hạn    100 – 200 ngày

Thông thường nhà đầu tư nên sử dụng cùng lúc 2 trung bình động trong phân tích, một trung bình động với số phiên tính toán ngắn và một trung bình động có số phiên tính toán dài. Hai trung bình động này sẽ bổ trợ lẫn nhau trong phân tích của nhà đầu tư và làm giảm các yếu điểm về tính nhạy và tính chính xác của cả hai do độ trễ của cả hai mang lại.

4. Sử dụng trung bình động để xác định và xác nhận xu thế

Mục này sẽ giới thiệu cụ thể về cách thức xác định và xác nhận biến động có xu thế của thị trường bằng phương pháp phân tích trung bình động.
  • Nếu đường trung bình động đi lên, xu thế hiện tại của thị trường là đi lên. Nếu đường trung bình động đi xuống, xu thế hiện tại của thị trường là đi xuống. Chú ý đến tính ngắn hạn và dài hạn của trung bình động do việc lựa chọn số phiên tính toán.
  • Nếu giá ở trên đường trung bình động, xu thế hiện tại của thị trường là đi lên, nếu giá ở dưới đường trung bình động, xu thế hiện tại là đi xuống. Hãy cảnh giác với thị trường khi đang ở trạng thái dập dềnh. Khoảng cách giữa giá và trung bình động càng lớn thì biểu hiện của xu thế càng mạnh.
  • Nếu trung bình động ngắn hạn vượt lên trên trung bình động dài hạn hơn, xu thế của thị trường là đi lên. Nếu trung bình động ngắn hạn nằm dưới trung bình động dài hạn, xu thế của thị trường là đi xuống. Nếu khoảng cách này càng lớn thì biểu hiện của xu thế càng mạnh.
  • Nếu giá vượt qua ngưỡng Resistance trước báo hiện xu thế tăng giá, việc đường trung bình động xuyên phá ngưỡng này khẳng định chắc chắn xu thế tăng của giá. Nếu giá vượt xuống dưới ngưỡng Support trước báo hiệu xu thế giảm giá, việc đường trung bình động xuyên phá ngưỡng này khẳng định chắc chắn xu thế giảm của giá.
Xét ví dụ về đường trung bình động của Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển công nghệ – FPT
Ví dụ này sử dụng 2 đường trung bình động tính toán trong 5 phiên SMA – 5 (màu tím) và trung bình động tính toán trong 20 phiên SMA – 20 (màu đỏ), đường màu xanh nước biển thể hiện biểu đồ giá. Ví dụ này minh hoạ về sử dụng trung bình động xác nhận xu thế biến động giá.
Nguồn ảnh đồ thị – http://www.vietstock.com.vn
  • Giai đoạn từ giữa tháng 2 đến giữa tháng 3, thị trường ở trạng thái biến động dập dềnh với hai ngưỡng resistance và support thể hiện bằng hai đường kẻ ngang xanh và đỏ.
  • Tại các thời điểm số (1) và (2) giá CP xuyên phá các ngưỡng resistance và support, tuy nhiên việc xuyên phá này chỉ là tạm thời và giá sớm trở lại dao động trong các ngưỡng resistance và support. Việc khẳng định thị chuyển hướng sang biến động có xu thế chỉ dựa vào việc giá xuyên phá các ngưỡng resistance và support không đủ chắc chắn với xác suất sai xót lớn.
  • Đến thời điểm số (3), giá CP xuyên phá ngưỡng support, đến thời điểm số (4) sau đó đến lượt trung bình động SMA – 5 xuyên phá ngưỡng này, lúc này có thể khẳng định giá CP đã chuyển hướng sang biến động có xu thế với một xác suất chắc chắn hơn.
Xét ví dụ về đường trung bình động của Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh – REE
Ví dụ này sử dụng 2 đường trung bình động tính toán trong 5 phiên SMA – 5 (màu tím) và trung bình động tính toán trong 20 phiên SMA – 20 (màu đỏ), đường màu xanh nước biển thể hiện biểu đồ giá.
Nguồn ảnh đồ thị – http://www.vietstock.com.vn
  • Trong giai đoạn trước tháng 11 năm 2006, biến động thị trường luôn ở trạng thái dập dềnh, việc sử dụng phân tích xu thế trong giai đoạn này tiềm ẩn nhiều khả năng sai xót. Xét về tính chính xác trong giai đoạn này SMA – 20 tỏ ra chính xác hơn, đường trung bình động không đi lên không đi xuống, SMA – 5 trong ngắn hạn vẫn có lúc lên hoặc xuống nhưng chỉ thể hiện xu thế trong giai đoạn rất ngắn.
  • Tại thời điểm số (1) các dấu hiện sau thể hiện xu thế tăng của giá:
  • Các đường trung bình động của SMA – 5 và SMA – 20 đi lên.
  • Ngưỡng Resistance bị xuyên phá bởi giá, tiếp đó các đường trung bình động SMA – 5 và SMA – 20 lần lượt xuyên phá ngưỡng này khẳng định xu thế tăng của giá.
  • Giá cao hơn giá trị trung bình động.
  • Giá trị trung bình động SMA – 5 vượt giá trị trung bình động SMA – 20
  • Tại thời điểm số (2) các dấu hiện sau thể hiện xu thế giảm của giá:
  • Các đường trung bình động SMA – 5 và SMA – 20 đi lên.
  • Ngưỡng Support bị xuyên phá bởi giá, tiếp đó các đường trung bình động SMA – 5 và SMA – 20 lần lượt xuyên phá ngưỡng này khẳng định chắc chắn xu thế giảm của giá.
  • Giá đã xuống thấp hơn giá trị trung bình động.
  • Giá trị trung bình động SMA – 5 đã xuống thấp hơn giá trị trung bình động SMA – 20.
  • Tại cả 2 thời điểm số (1) và số (2): SMA – 5 thể hiện tính nhạy bén, nhanh chóng thể hiện và xác nhận xu thế tăng hoặc giảm của giá trước SMA – 20.

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Phân tích kỹ thuật (5): MACD – Trung bình động hội tụ/phân kỳ

Kể từ khi được Gerald Appel giới thiệu, MACD đã trở thành một trong những công cụ phân tích kỹ thuật đơn giản và tin cậy nhất. MACD được tính toán dựa trên hiệu số của hai đường trung bình động dài hạn và ngắn hạn, giá trị trả về thuộc nhóm phân tích tương quan: tương quan giữa trung bình động dài hạn và trung bình động ngắn hạn.

Chi tiết về phân tích tương quan xem: Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

Chi tiết về trung bình động xem: Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế.

Xem trước

1. Tính toán

Về mặt tính toán MACD lấy một giá trị trung bình động của giá trong ngắn hạn trừ cho giá trị trung bình động trong dài hạn. Thông thường MACD sử dụng EMA – 12 làm trung bình động ngắn hạn và EMA – 26 làm trung bình động dài hạn và cho hiệu số trên.

Như vậy nếu MACD > 0 thì trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn.Nếu MACD < 0 thì trung bình động dài hạn nhỏ hơn trung bình động ngắn hạn.

Đồ thị các giá trị của MACD là một máy hiển thị dao động phản ánh tương quan giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình động dài hạn. Thông thường đồ thị này được vẽ kèm với đồ thị trung bình động EMA – 9 của chính MACD và đồ thị MACD – Histogram là hiệu số của MACD và trung bình động EMA – 9 của chính MACD. Về MACD – Histogram sẽ được nêu trong một bài khác.

2. Ý nghĩa

So với các phương pháp phân tích khác, MACD thuộc về cả hai nhóm phân tích xu thế và phân tích tương quan, MACD vừa chỉ ra xu thế của thị trường vừa xác định các tín hiệu mua và bán trên cùng một đồ thị.

Như đã biết trong bài viết về trung bình động, khoảng cách giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình động dài hạn thể hiện xu thế tăng hoặc giảm của thị trường. Nếu trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là tăng giá và MACD có giá trị dương. Nếu giá trị MACD dương và ngày càng lớn thì xu thế thị trường tăng ngày càng mạnh, phe bò tót ngày càng thắng áp đảo. Nếu trung bình động ngắn hạn nhỏ hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là giảm giá và MACD có giá trị âm. Nếu giá trị MACD âm và ngày càng nhỏ thì xu thế thị trường giảm ngày càng mạnh, phe gấu ngày càng thắng áp đảo. Đường trung bình của MCAD là 0 nơi mà trung bình động giá ngắn hạn gặp trung bình động giá dài hạn, tại đây bắt đầu có sự đổi chiều về xu thế của thị trường.

Ví dụ về MCAD giá cổ phiếu Công ty cổ phần Nhựa Đồng Nai – DNP

(Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn )

  • Đồ thị trên tại các thời điểm số 1 và 2, đường MACD (Màu xanh) giao cắt đường zero, tại đây các đường đồ thj trung bình động EMA – 12 và EMA – 26 giao cắt nhau trên đồ thị giá.
  • Trên đồ thị MACD, đường EMA – 9 của chính MACD được vẽ trên cùng đồ thị với màu tím và MACD – Histogram được vẽ trên cùng đồ thị với các cột màu xanh dương.

3. Sử dụng

Khi sử dụng MACD cần chú ý các tín hiệu sau để phát lênh mua hoặc bán:

  • Sự giao cắt giữa MCAD và đường trung bình động EMA của chính MACD: Nếu đường MACD ở cắt đường trung bình động EMA của chính nó và đi xuống dưới đường này thì đó là tín hiệu bán ra để cắt lỗ. Nếu đường MACD cắt đường EMA của chính nó và đi lên trên đường này thì đó là tín hiệu mua vào. Sự giao cắt này được gọi là cò súng khai hỏa các tín hiệu mua và bán khác chính xác. Tuy nhiên cũng chú ý rằng khi các tín hiệu này xảy ra thì thường sự việc đã xảy ra rồi. Tuy không thể mua đáy bán đỉnh được nhưng việc bạn sớm mua vào hay bán ra ở đầu một xu thế lên giá hoặc giảm giá cũng là một món hời.
  • Sự giao cắt giữa MCAD và đường zero. Sự giao cắt này chỉ là sự khẳng định lại tăng phần chắc chắn về xu thế mà các phép phân tích khác chỉ ra. Thông thường sự giao cắt này xảy ra khá muộn với độ trễ lớn nhất là khi sử dụng MCAD với hai đường trung bình động trong 9 ngày và 26 ngày. Do đó không thể dùng sự giao cắt này làm tín hiệu để phát lệnh mua/bán.

Các tín hiệu trên cần kết hợp với nhiều tín hiệu trên các phân tích khác để có kết quả chính xác hơn.

  • Xác định xu thế tăng hoặc giảm hoặc dập dềnh.
  • Các dấu hiện về phân kỳ âm, phân kỳ dương.
  • Ngưỡng siêu mua/siêu bán

Về các tín hiệu này đã trình bày trong 3 bài

Khi phối hợp các tín hiệu trên với nau cần nhớ đến nghịch lý của việc áp dụng phân tích kỹ thuật: Việc áp dụng và chờ đợi càng nhiều tín hiệu để tăng phần khẳng định chính xác hơn của một quyết định mua bán có thể làm tăng phần chậm trễ cho quyết định mua bán đó và ngược lại việc áp dụng quá ít tín hiệu để ra quyết định mua bán cho kịp thời cơ có thể lại kém phần chính xác. Quyết định chính xác nhất là không quyết định.

Xét ví dụ sau về giá của chứng chỉ quỹ VF1:

(Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn )

  • Trong giai đoạn cuối tháng 2 năm 2007, RSI đạt trên ngưỡng 50 và tiến dần đến ngưỡng siêu mua, phân kỳ dương xuất hiện và có sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó tại thời điểm số (1) là tín hiệu mua vào. Từ lúc đó cho đến thời điểm số (2) (giao đoạn ngay trước và ngay sau tết), thị trường có dạng dập dềnh nhưng MACD luôn ở trên đường trung bình động EMA của chính nó vì vậy nhà đầu tư vẫn ôm chặt chứng chỉ quỹ của VF1 chờ thời.
  • Sang đầu tháng 3 giá của VF1 vẫn tăng tốt, ngưỡg siêu mua đã bị xuyên phá tại thời điểm số (2). Sang đến giữa tháng 3 tại thời điểm số (3), MACD đã giao cắt đường trung bình động EMA của chính nó và đi xuống dưới đường này, các tín hiệu trên đồ thị RSI đã phá vỡ và đi xuống dưới ngưỡng siêu mua cùng với sự xuất hiện của phân kỳ dương khẳng định đã đến lúc cần phải rút lui khỏi thị truờng.
  • Vào giữa tháng 4, tại thời điểm số (4), lúc này RSI đã phá vỡ ngưỡng siêu bán và đi lên trên giá trị này, phân kỳ dương xuất hiện cho thấy sự khởi sắc của thị trường. sự giao cắt giữa MACD và EMA của chính nó báo hiệu tín hiệu mua vào. Tuy nhiên sự giao cắt này không đảm bảo một sự chắc chắn cho những sự kiện bất ngờ xảy ra sau đó đối việc phát hành của chứng chỉ quỹ VF1 đã đẩy giá của VF1 tụt dốc.

Hãy chú ý đến các thời điểm RSI xuyên phá các ngưỡng siêu mua, siêu bán và sự giao cắt của MACD và các đường trung bình động EMA của chính nó xảy ra sau đó trên đồ thị giá của cổ phiếu của công ty Cổ phần Hàng Hải Hà Nôi (MHC).

(Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn )

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Đường SMA

DANH MỤC THUẬT NGỮ

Trung bình trượt (Moving Average – MA)

( Người gửi: zuogthog — 25/04/2007)
Ở đây, tôi muốn đưa khái niệm Trung bình trượt được sử dụng cho phân tích kỹ thuật trong kinh doanh chứng khoán (không bàn tới khái niệm Trung bình trượt và hiệu ứng MA(q) của thống kê, kinh tế lượng).

Trung bình trượt là số thống kê được sử dụng trong phân tích kĩ thuật, dùng để chỉ mức biến động bình quân của giá cả, thu nhập hay khối lượng giao dịch của các chứng khoán trong một khoảng thời gian nhất định. Trung bình trượt thường được sử dụng để đo lường các xung lực và xác định phạm vi kháng cự hay chống đỡ trên đồ thị phân tích, làm rõ các xu thế của thị trường hoặc để giảm nhẹ mức độ biến động của giá cả hay các nhân tố “gây nhiễu” ảnh hưởng đến việc diễn giải các đồ thị và dự đoán tình hình thị trường trong tương lai. Thông thường, ta có thể khẳng định một xung lực đẩy thị trường đi lên là chắc chắn nếu mức mức bình quân ngắn hạn cao hơn mức bình quân dài hạn (vd: mức bình quân trong vòng 50 ngày). Ngược lại xung lực đẩy thị trường đi xuống là chắc chắn khi mức bình quân ngắn hạn thấp hơn mức bình quân dài hạn. Khoảng biến thiên giữa giá trị ngắn hạn và giá trị dài hạn phụ thuộc vào các công thức tính được sử dụng, phương pháp tính, qua đó các thông số về mức bình quân trượt được phản ánh tương ứng. Có hai cách tính MA, có thể tính theo công thức đơn giản hoặc tính theo công thức số bình quân gia quyền.

MA có lẽ là một trong các biến được sử dụng nhiều nhất trong phân tích kĩ thuật bởi số liệu này được sử dụng để hình thành các bảng biểu cho thấy xu hướng tăng giảm của thị trường trong thời gian tới. MA có thể được sử dụng để theo dõi các biến động theo ngày, theo giờ hoặc tháng. Mỗi số liệu của ngày, tuần, tháng mới nhất sẽ được thế vào công thức tính để tìm ra các số liệu mới, vì thế trung bình trượt là số liệu thay đổi liên tục qua thời gian. Nhìn chung, thời gian tính càng ngắn thì mức giá càng cho thấy xu hướng biến động mạnh, ví dụ: mức đường thể hiện mức trung bình trượt trong 20 ngày sẽ cho thấy mức biến động rõ rệt hơn đường thể hiện các mức MA

Một đường SMA được tính bằng cách cộng giá các chứng khoán trong N thời kỳ gần nhất và sau đó chia cho N. Nó làm ”mượt” chuỗi dữ liệu, làm cho việc phát hiện ra xu hướng trở nên dễ dàng hơn.

Ngoài ra còn sử dụng đường đường trung bình trượt số mũ (EMA). Một đường EMA khá là khác biệt so với đường trung bình động đơn (SMA) ở chỗ nó còn đưa ra trọng số phụ thêm cho các dữ liệu về giá. Điều này cho phép các nhà đầu tư dò tìm ra và phản ứng một cách nhanh chóng với những xu hướng biến động giá gần nhất, mà điều này có thể cần nhiều thời gian hơn mới xuất hiện ở trong đường SMA. Công thức tính cho 1 đường EMA là: EMA = giá ngày hôm nay*K + EMA ngày hôm qua*(1-K) với K = 2 / (N+1). Giống như 1 đường SMA, nó làm “mượt” chuỗi dữ liệu, làm cho việc phát hiện ra xu hướng dễ dàng hơn.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Hello world!

Welcome to WordPress.com. This is your first post. Edit or delete it and start blogging!

Posted in Uncategorized | 1 Comment